Thứ bảy, 19/09/2020 | 16:23
RSS

Cặp tình nhân bắt cóc bé trai 2 tuổi ở Bắc Ninh đối diện mức án nào?

Chủ nhật, 23/08/2020, 10:10 (GMT+7)

Dưới góc độ pháp lý, 2 nghi phạm bắt cóc bé trai 2 tuổi ở công viên sẽ đối diện với tội danh và mức án như thế nào.

Sự kiện:
Quảng Ninh

Tội danh và mức án nào cho 2 nghi phạm bắt cóc bé trai 2 tuổi ở công viên?

Hai nghi phạm liên quan đến vụ bắt cóc bé trai 2 tuổi ở công viên. Ảnh Lao Động

Cục Cảnh sát hình sự (Bộ Công an) phối hợp với Phòng Cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh và Phòng Cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang đã giải cứu an toàn cháu bé bị mất tích Nguyễn Cao Gia Bảo (SN 2018, ở thành phố Bắc Ninh).

Đồng thời cơ quan chức năng đã bắt giữ hai nghi phạm là Nguyễn Thị Thu (32 tuổi) và Đặng Văn Bằng (33 tuổi). Hai nghi phạm được xác định có dấu hiệu của tội "Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi".

Trao đổi trên báo Lao Động, ông Nguyễn Anh Thơm (Đoàn Luật sư Hà Nội) cho biết, để có căn cứ xử lý các đối tượng, Cơ quan điều tra sẽ làm rõ động cơ, mục đích bắt cóc cháu bé để xử lý tương ứng về hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật

Dưới góc độ pháp lý, hành vi đưa cháu bé rời khỏi sự quản lý của bố mẹ mà không được sự đồng ý đã cấu thành tội Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 153 Bộ luật hình sự. Luật sư cho rằng, hành vi phạm tội của đối tượng là nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền được chăm sóc, nuôi và sống chung với cha mẹ, quyền được bảo vệ của trẻ em.

Ông Thơm nêu cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để làm gương cho những kẻ đã và đang có ý định phạm tội. Cụ thể, Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 3-7 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 5-10 năm: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp; Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng; Đối với từ 2 - 5 người; Phạm tội 2 lần trở lên; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 - 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 - 15 năm: Có tính chất chuyên nghiệp; Đối với 06 người trở lên; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Làm nạn nhân chết; Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10-50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1-5 năm.

Thiên Thanh (T/H)
Theo Đời sống Plus/GĐVN