Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển biến thực chất trong giáo dục STEM
Thông tư 86/2026/TT-BGDĐT tạo cơ sở tổ chức giáo dục STEM bài bản, gắn phát triển năng lực học sinh với yêu cầu nhân lực trong bối cảnh mới.
Giáo dục STEM tại Trường THCS Kim Liên (Hà Nội).
Tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện triển khai giáo dục STEM thực chất
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực phát triển quan trọng, giáo dục phổ thông không chỉ dừng ở trang bị kiến thức mà còn phải giúp học sinh hình thành tư duy khoa học, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo và vận dụng tri thức vào thực tiễn. Đây cũng là nền tảng để chuẩn bị nguồn nhân lực có khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Trước yêu cầu đó, việc Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 86/2026/TT-BGDĐT quy định về tổ chức hoạt động giáo dục tích hợp khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học trong giáo dục phổ thông (Thông tư 86) không chỉ đáp ứng đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn mà còn đặt nền tảng thể chế cho giáo dục STEM được tổ chức bài bản, đồng bộ, thực chất, hiệu quả hơn.
Nhiều năm gắn bó với giáo dục STEM trong trường phổ thông, thầy Trang Minh Thiên – Tổ trưởng chuyên môn Tổ Công nghệ - Sinh học - Tin học, Trường THPT Nguyễn Việt Dũng (TP Cần Thơ) khẳng định: Thông tư 86 là bước ngoặt thể chế quan trọng, cấp thiết, mang tính chiến lược đối với sự phát triển giáo dục phổ thông cũng như nguồn nhân lực đất nước.
Một trong những ý nghĩa quan trọng của Thông tư 86 là giải quyết triệt để các “điểm nghẽn” và bất cập thực tiễn trong tổ chức dạy học STEM thời gian qua, đặc biệt là tháo gỡ áp lực hành chính và bệnh thành tích.
Theo đó, việc quy định rõ giáo dục STEM được tích hợp linh hoạt vào kế hoạch giáo dục nhà trường, không làm phát sinh môn học mới, không tăng tổng số tiết học, không tạo thêm hồ sơ, sổ sách hay áp lực học tập cho học sinh và giáo viên giúp các cơ sở giáo dục có điều kiện tập trung vào chất lượng dạy học thay vì hình thức tổ chức. Đặc biệt, Thông tư khẳng định các ngày hội, cuộc thi STEM không phải là điều kiện bắt buộc, tuyệt đối không tạo áp lực thành tích hay lấy đó làm tiêu chí thi đua.
Thầy Trang Minh Thiên cũng nhấn mạnh ý nghĩa của Thông tư 86 trong giải bài toán khó về cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm tại nhiều cơ sở giáo dục.
“Thực tế, không ít trường còn lúng túng khi cho rằng tổ chức dạy học STEM phải có phòng thí nghiệm hiện đại, thiết bị đắt tiền. Với Danh mục khung thiết bị giáo dục STEM được phân thành 3 mức độ vô cùng linh hoạt, Thông tư 86 tạo điều kiện để các trường chủ động lựa chọn phương án phù hợp. Các trường hoàn toàn có thể triển khai ở Mức 1 dựa trên thiết bị dạy học tối thiểu hiện có, vật liệu tái chế, chi phí thấp mà vẫn đảm bảo chất lượng, tạo sự bình đẳng tiếp cận STEM cho học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn”, thầy Trang Minh Thiên cho hay.
Một điểm đáng chú ý khác là các quy định về ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học STEM. Theo thầy Thiên, Thông tư lần đầu tiên thiết lập hành lang pháp lý cho việc ứng dụng AI và công nghệ số trong lĩnh vực này, với những chỉ dẫn cụ thể về khai thác học liệu số, phần mềm mô phỏng và công cụ AI. Cùng với việc mở rộng khả năng ứng dụng công nghệ, Thông tư nhấn mạnh yêu cầu sử dụng AI có trách nhiệm, minh bạch, bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân của học sinh.
Thông tư cũng làm rõ cơ chế xã hội hóa và hợp tác ngoài nhà trường thông qua việc quy định trách nhiệm, quy trình phối hợp giữa nhà trường với các cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp, nhà khoa học và nghệ nhân. Đây là cơ sở để đưa trải nghiệm thực tế sản xuất vào hoạt động học tập, gắn kiến thức với thực tiễn, đồng thời bảo đảm quá trình phối hợp diễn ra an toàn, đúng quy định pháp luật.
Thầy Trang Minh Thiên và học trò tại Cuộc thi Olympic STEM HNUE 2025.
Từ thực tiễn nhà trường, cô Trương Thúy Lê - Tổ trưởng chuyên môn Tổ Khoa học tự nhiên 2, Trường THCS Kim Liên (Hà Nội) khẳng định, ban hành Thông tư 86 là vô cùng cần thiết trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng có vai trò quan trọng. Học sinh cần được phát triển tư duy khoa học, khả năng giải quyết vấn đề, sáng tạo và vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Ở cấp THCS, môn Khoa học tự nhiên tạo điều kiện để học sinh kết nối kiến thức vật lí, hóa học, sinh học nhằm giải thích hiện tượng, tiến hành thí nghiệm, thiết kế và giải quyết những vấn đề thực tế.
Tại Trường THCS Kim Liên, ban giám hiệu có định hướng cụ thể đối với hoạt động STEM, đặc biệt với các tổ Khoa học tự nhiên 1 và Khoa học tự nhiên 2. Ngay từ đầu năm học, hai tổ đã xây dựng kế hoạch, rà soát chương trình và lựa chọn những bài học phù hợp để tổ chức thực hiện.
Theo cô Lê, điều quan trọng không phải tổ chức thật nhiều hoạt động STEM, mà là lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu học tập, đối tượng học sinh và điều kiện của nhà trường. Những hoạt động thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm có thể được triển khai từ thiết bị sẵn có và vật liệu dễ tìm, miễn là học sinh được tham gia tìm hiểu vấn đề, đề xuất ý tưởng, thiết kế, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm.
Cách làm này vừa góp phần nâng cao chất lượng dạy học, vừa giúp giáo dục STEM có thể triển khai thường xuyên, tránh tạo áp lực không cần thiết về kinh phí và cơ sở vật chất.
“Thông tư 86 đã tạo cơ sở rõ ràng hơn cho các nhà trường trong tổ chức hoạt động STEM, từ nội dung, hình thức tổ chức đến đánh giá kết quả giáo dục và các điều kiện bảo đảm. Khi có định hướng thống nhất, giáo viên sẽ thuận lợi hơn trong xây dựng kế hoạch, phối hợp giữa các môn học và lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp. Đồng thời, việc triển khai cũng tránh được tình trạng nặng về hình thức, chỉ chú trọng sản phẩm trưng bày mà chưa đánh giá đầy đủ quá trình học sinh vận dụng kiến thức, phát triển năng lực”, cô Trương Thúy Lê đánh giá.
Điều quan trọng không phải tổ chức thật nhiều hoạt động STEM, mà là lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu học tập, đối tượng học sinh và điều kiện của nhà trường.
Đặt năng lực người học vào trung tâm, đưa STEM đi vào chiều sâu
Nếu hành lang pháp lý tạo điều kiện để giáo dục STEM được tổ chức thuận lợi, thực chất, hiệu quả hơn, thì chất lượng học tập mới là thước đo giá trị của hoạt động này.
TS. Tôn Quang Cường - Chủ nhiệm Khoa Công nghệ giáo dục, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng trong một thời gian dài, giáo dục STEM thường được tiếp cận từ góc độ tích hợp các môn khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, hoặc thông qua hoạt động trải nghiệm, chế tạo sản phẩm, tham gia cuộc thi.
Những cách tiếp cận này đều có giá trị và mang lại kết quả nhất định. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở đó, nhà trường có thể tổ chức nhiều hoạt động STEM mà chưa chắc tạo ra sự thay đổi tương ứng về chất lượng học tập.
Theo TS. Tôn Quang Cường, điều cốt lõi của giáo dục STEM không nằm ở việc học sinh tiếp xúc với bao nhiêu thiết bị, làm ra bao nhiêu sản phẩm hay tham gia bao nhiêu cuộc thi, mà ở khả năng vận dụng kiến thức để nhận diện và giải quyết vấn đề. Các em cần biết đặt câu hỏi, hình thành giả thuyết, thử nghiệm, phân tích kết quả, điều chỉnh giải pháp và bảo vệ lập luận bằng bằng chứng.
STEM, vì thế, không chỉ là một hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mà còn là cách tiếp cận nhằm phát triển tư duy khoa học, năng lực thiết kế, giải quyết vấn đề và vận dụng tri thức vào tình huống thực tiễn. Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và thị trường lao động biến đổi nhanh chóng, những năng lực này càng có ý nghĩa. Dù không thể dự báo chính xác mọi nghề nghiệp mà học sinh sẽ làm trong tương lai, nhà trường vẫn có thể chuẩn bị cho các em năng lực học hỏi, tư duy có căn cứ, hợp tác và thích ứng trước những vấn đề chưa có sẵn lời giải.
Từ đó, theo TS. Tôn Quang Cường, ý nghĩa của Thông tư 86 cần được đặt trong yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, đó là tạo cơ sở để tổ chức hoạt động STEM bài bản, có định hướng, bảo đảm chất lượng và phù hợp với điều kiện của từng nhà trường. Tuy nhiên, để những định hướng chính sách chuyển hóa thành thay đổi thực chất trong lớp học, cần tiếp tục chú trọng thiết kế chương trình, nâng cao năng lực giáo viên, bảo đảm nguồn lực và xây dựng cơ chế đánh giá phù hợp.
Khẳng định sự cần thiết ban hành Thông tư 86, cũng như triển khai giáo dục STEM trong trường phổ thông, TS.Tôn Quang Cường cho rằng, STEM thúc đẩy sự chuyển dịch từ dạy học thiên về truyền thụ kiến thức sang tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Đây là chuyển dịch quan trọng, bởi năng lực không hình thành chỉ bằng việc học sinh ghi nhớ được bao nhiêu thông tin, mà quan trọng hơn là biết sử dụng thông tin đó như thế nào trong những tình huống cụ thể. Một vấn đề trong đời sống có thể đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức toán học để tính toán, kiến thức khoa học để giải thích hiện tượng, tư duy kỹ thuật để thiết kế giải pháp và công nghệ để tạo ra hoặc kiểm nghiệm sản phẩm. Khi được tổ chức đúng cách, hoạt động STEM giúp học sinh nhận ra mối liên hệ giữa những tri thức vốn thường được trình bày thành các môn học riêng biệt.
Đồng thời, STEM tạo điều kiện để nhà trường mở rộng không gian học tập, đưa những vấn đề thực tiễn trở thành chất liệu cho quá trình khám phá và vận dụng kiến thức. Học sinh có thể tìm hiểu các vấn đề về môi trường địa phương, sản xuất nông nghiệp, giao thông, năng lượng, sức khỏe cộng đồng hoặc những thách thức trong chính đời sống của mình.
Theo TS. Tôn Quang Cường, sản phẩm học tập có giá trị không nhất thiết phải quá phức tạp về công nghệ. Một mô hình tưới tiết kiệm nước, giải pháp tiết kiệm điện, phương án giảm rác thải trong trường học hay thiết kế hỗ trợ người khuyết tật đều có thể trở thành nhiệm vụ STEM có chiều sâu, nếu học sinh huy động kiến thức, thu thập dữ liệu, thử nghiệm và giải thích vì sao giải pháp của mình có hiệu quả.
Tuy nhiên, chuyên gia này nhấn mạnh, giá trị của STEM không nằm ở tên gọi của hoạt động hay độ phức tạp của sản phẩm, mà ở chất lượng quá trình học tập được thiết kế bên trong. Nếu học sinh chỉ làm theo hướng dẫn để hoàn thành một sản phẩm có sẵn, hoạt động dù hấp dẫn cũng chưa chắc tạo ra nhiều cơ hội phát triển tư duy. Ngược lại, một nhiệm vụ sử dụng vật liệu đơn giản nhưng đòi hỏi học sinh phân tích nhiều phương án, kiểm chứng giả thuyết và điều chỉnh thiết kế có thể mang lại giá trị giáo dục lớn hơn.
Thông tư 86/2026/TT-BGDĐT không chỉ “cởi trói” về mặt cơ chế, tháo gỡ khó khăn cho giáo viên và các nhà trường, mà còn tạo hành lang pháp lý minh bạch, hiện đại để giáo dục STEM thực sự đi vào chiều sâu, lan tỏa cảm hứng khoa học và kiến tạo thế hệ công dân số cho tương lai”.
Thầy Trang Minh Thiên.