Bộ GD&ĐT siết chuẩn đầu ra, kiểm soát nguy cơ lạm phát điểm số đại học
Bộ GD&ĐT yêu cầu trường đại học siết chặt chuẩn đầu ra, kiểm soát nguy cơ lạm phát điểm số, bảo đảm kết quả tốt nghiệp phản ánh đúng năng lực người học.
Tân cử nhân tại lễ vinh danh tân khoa 2026 của Trường Đại học Luật TPHCM, tháng 8/2026. Ảnh: ULAW.
Tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc tại nhiều trường ở mức cao
Ngày 16/10, Bộ GD&ĐT ban hành công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2026-2027 đối với giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm, trong đó yêu cầu tăng cường bảo đảm chất lượng đào tạo và kiểm soát tình trạng lạm phát điểm số. Theo đó, các cơ sở đào tạo phải phân tích phân bố điểm học phần, kết quả học tập và xếp loại tốt nghiệp theo ngành, khóa, hình thức đào tạo; đối chiếu với chuẩn đầu ra và phản hồi của doanh nghiệp để phát hiện, kiểm tra, xử lý tình trạng lạm phát điểm. Bộ GD&ĐT yêu cầu không áp đặt tỷ lệ điểm hoặc tỷ lệ tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, không hạ chuẩn để chạy theo thành tích.
Yêu cầu trên của Bộ GD&ĐT được đưa ra trong bối cảnh tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc tăng cao trong những năm gần đây.
Thống kê kết quả xét tốt nghiệp giai đoạn 2024-2026 tại một số trường đại học công lập lớn, được công bố trên các phương tiện truyền thông, cho thấy tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở mức cao, thậm chí chiếm phần lớn số sinh viên ra trường.
Tại Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), tỷ lệ cử nhân tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc tăng từ 77,2% năm 2024 lên 85,66% năm 2025 và đạt 87,5% trong đợt xét tốt nghiệp tháng 8/2026. Đáng chú ý, trong số hơn 5.700 sinh viên tốt nghiệp đợt này, tỷ lệ đạt loại xuất sắc chiếm hơn 51%, loại giỏi chiếm hơn 36%, loại khá chiếm hơn 12% và loại trung bình chỉ 0,3%. Bên cạnh đó, trường có 17 sinh viên đạt điểm tuyệt đối 4.0 theo thang điểm 4.
Tại Học viện Tài chính, tỷ lệ sinh viên xếp loại giỏi và xuất sắc cũng áp đảo với 72,44%. Cụ thể, trong số các sinh viên được xét tốt nghiệp đợt tháng 8/2026, có 28,41% đạt loại xuất sắc (764 sinh viên) và 44,03% đạt loại giỏi (1.184 sinh viên). Tỷ lệ loại khá chiếm 27,07% (728 sinh viên), trong khi loại trung bình chỉ vỏn vẹn 0,48% (13 sinh viên).
Tại Trường Đại học Ngoại thương, kết quả học tập cao cũng chiếm tỷ lệ lớn trong số sinh viên được công nhận tốt nghiệp. Ở lễ trao bằng đợt 1 năm 2025, gần 1.300 sinh viên được công nhận tốt nghiệp, trong đó 32,4% đạt loại xuất sắc và 47% đạt loại giỏi. Tổng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ở hai mức này gần 80%.
Không chỉ tập trung ở nhóm ngành kinh tế, tài chính, tỷ lệ sinh viên đạt kết quả học tập cao còn xuất hiện tại các lĩnh vực đào tạo khác. Ở một số trường đại học nhóm ngành khoa học sức khỏe, khoa học tự nhiên, kỹ thuật, tỷ lệ sinh viên đạt loại giỏi, xuất sắc chiếm trên 30%.
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở mức cao tại nhiều trường đại học đặt ra yêu cầu nhìn nhận nghiêm túc về chất lượng đào tạo và thực chất của việc học
Tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026 được tổ chức tại TPHCM đầu tháng 10/2026, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn bày tỏ trăn trở khi tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc ở nhiều trường hiện rất cao, đồng thời đặt vấn đề cần nhìn nhận thẳng thắn liệu sinh viên đã thực sự nỗ lực và “học thực chất” hay chưa.
Theo Bộ trưởng, nếu chuẩn đầu ra của một trường top đầu không cao hơn các trường khác, trong khi tỷ lệ sinh viên đạt loại xuất sắc vẫn cao, thì có thể người học không cần phải nỗ lực quá nhiều. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh chóng, nếu người học không nỗ lực, không học sâu thì khó có thể làm chủ và dẫn dắt AI. Chỉ khi sinh viên thực sự nỗ lực, thậm chí ở mức 100-110%, mới có thể tạo ra kết quả học tập thực chất.
Thí sinh tìm hiểu thông tin trong một ngày hội tuyển sinh tại TPHCM năm 2026. Ảnh: L.Nam.
Chuẩn đầu ra phải phản ánh năng lực thực chất
Đồng tình với những quan điểm của Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, TS. Lê Đông Phương, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giáo dục đại học - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (nay là Viện Chiến lược và Chính sách Giáo dục), cho rằng cần xem xét mức độ yêu cầu của chuẩn đầu ra và cách đánh giá kết quả học tập tại các trường đại học.
Theo TS Phương, với từng nhóm kiến thức, kỹ năng, chương trình đào tạo cần xác định rõ người học phải đạt đến mức độ nào, cần nắm vững, hiểu và vận dụng được những gì. Tuy nhiên, khi thiết kế chương trình đào tạo gắn với chuẩn đầu ra, cơ sở giáo dục đại học hoặc giảng viên có thể đặt ra những yêu cầu còn hời hợt, chỉ dừng ở mức người học “biết được cái nọ, biết được cái kia”. Khi thang đánh giá được đặt ở mức quá thấp, sinh viên có thể dễ dàng đạt điểm cao nhưng chưa chắc đã thể hiện được năng lực thực sự xuất sắc.
Trước ý kiến cho rằng sinh viên các trường top đầu vốn có chất lượng đầu vào cao nên tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc lớn là điều dễ hiểu, TS Lê Đông Phương cho rằng đây là quan điểm sai lầm. Theo ông, xu hướng giáo dục đại học hiện đại trên thế giới không chỉ xem xét người học đạt được kết quả gì, mà còn phải đo lường mức độ thay đổi và tiến bộ của họ sau quá trình đào tạo. Điều quan trọng là sinh viên phải tiến bộ so với chính mình khi mới bước vào trường.
Để minh họa, TS Phương ví von đầu vào của một trường đại học top đầu có thể là những học sinh cao 1,8-1,9 m, trong khi ở trường tầm trung, chiều cao đầu vào chỉ khoảng 1,5 m. Nếu chuẩn đầu ra được hình dung như một trần nhà đặt ở độ cao 2 m cho cả hai trường, sinh viên trường top đầu sẽ dễ dàng với tay chạm tới mà không cần nỗ lực quá nhiều. Vấn đề đặt ra là liệu kết quả đó có phản ánh việc người học đã thực sự nỗ lực hết mình và đạt đến mức xuất sắc hay chưa.
Cùng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Thanh Hải, Trưởng Bộ môn Kỹ thuật Y sinh, Khoa Điện - Điện tử, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TPHCM, cho rằng nếu các trường top đầu đặt chuẩn đầu ra quá dễ, tương tự các trường bình thường, sinh viên dù đạt loại xuất sắc cũng chưa chắc đã phải nỗ lực nhiều trong quá trình học tập.
Theo ông Hải, điểm số đôi khi chưa phản ánh đúng năng lực thực chất của người học. Có sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc nhưng khi bước vào môi trường làm việc thực tế hoặc được kiểm tra lại kiến thức, kết quả thể hiện chưa tương xứng với điểm số trên bằng cấp. Nguyên nhân có thể xuất phát từ chương trình đào tạo, đề thi quá dễ dãi hoặc người đánh giá chưa đặt ra yêu cầu đủ cao. Những yếu tố này có thể vô tình tạo ra năng lực ảo, đồng thời khiến người học hình thành tâm lý ỷ lại.
PGS.TS Nguyễn Thanh Hải cho rằng dù chuẩn đầu ra trên giấy tờ của các trường có thể tương tự nhau, chất lượng đánh giá thực chất người học phụ thuộc nhiều vào cách triển khai của từng cơ sở đào tạo, đặc biệt là vai trò của giảng viên trong các kỳ thi, bài tập và suốt quá trình học tập.
Ở góc độ gắn kết đào tạo với nhu cầu thực tế, ThS Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công Thương TPHCM, cho rằng cần xem lại cách đánh giá nếu một sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc nhưng khi bước vào doanh nghiệp vẫn chưa thể đảm nhận công việc hay giải quyết vấn đề thực tế.
Theo ông, đại học không phải nơi “sản xuất” những bảng điểm đẹp, mà phải đào tạo ra những người có năng lực thực thi. Điểm số cao có thể cho thấy sinh viên học tốt, nhưng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn mới phản ánh họ có thể làm tốt công việc hay không. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển nhanh chóng, điều quan trọng không chỉ là người học biết gì mà còn là có thể làm được gì từ những kiến thức đã tích lũy.
Nhìn từ mối quan hệ giữa chất lượng đầu vào, quá trình đào tạo và năng lực thực tế, chất lượng giáo dục đại học không nên chỉ được đo bằng điểm số hay tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, mà còn phải xét đến giá trị gia tăng mà nhà trường tạo ra. Chất lượng đầu vào tốt là một lợi thế, nhưng chưa đủ để khẳng định hiệu quả đào tạo. Điều quan trọng là sau những năm học đại học, sinh viên tiến bộ như thế nào về kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực nghề nghiệp.
Sinh viên Trường Đại học Công Thương TPHCM trong giờ học tại các phòng thí nghiệm, thực hành. Ảnh: L.Nam.
Kiểm soát lạm phát điểm, nâng cao chất lượng đào tạo
Từ các phân tích trên, cho thấy kiểm soát lạm phát điểm số không chỉ dừng ở việc rà soát kết quả đánh giá, mà còn đòi hỏi các trường nhìn lại toàn bộ quá trình đào tạo, từ chương trình, phương pháp giảng dạy đến mức độ đầu tư cho việc học của sinh viên.
Tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn cũng yêu cầu các trường đại học thời gian tới phải thống kê, đo lường được thời gian sinh viên dành cho việc tự học và nghiên cứu mỗi tuần. Đồng thời, các trường cần xác định rõ những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo: chương trình đào tạo có vấn đề hay chưa đủ thách thức; bài thi, kiểm tra, đánh giá có đủ yêu cầu hay không; môn học có thực sự quan trọng, thiết yếu; phương pháp giảng dạy có đủ hấp dẫn; điều kiện học tập có đáp ứng yêu cầu; hay sinh viên đầu vào chưa phù hợp với chương trình.
“Chúng ta phải trả lời được những câu hỏi đó thì mới cải tiến được chất lượng đào tạo”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Từ yêu cầu nhìn lại toàn diện quá trình đào tạo, các chuyên gia cho rằng việc nâng cao chuẩn đầu ra và bảo đảm đánh giá thực chất là những yếu tố then chốt để kết quả học tập phản ánh đúng năng lực của sinh viên.
Theo PGS.TS Nguyễn Thanh Hải, cần rà soát, nâng cao chuẩn đầu ra, bảo đảm yêu cầu tương xứng với trình độ đào tạo và năng lực nghề nghiệp của sinh viên. Các yêu cầu này phải được thể hiện thực chất trong chương trình, nội dung giảng dạy, đề thi và phương thức đánh giá, để điểm số và xếp loại tốt nghiệp phản ánh đúng năng lực người học.
TS Lê Đông Phương cho rằng các trường cần thiết kế chương trình đào tạo giúp sinh viên thực sự tiến bộ, đồng thời phản ánh được sự tiến bộ đó qua kết quả học tập. Đây cũng là yếu tố góp phần tạo nên uy tín và thương hiệu của một trường đại học. Theo ông, nhiều trường đại học lớn trên thế giới phân loại học lực dựa trên phân phối chuẩn trong từng lớp, với tỷ lệ đạt loại xuất sắc (điểm A) thường chỉ khoảng 2%.
Bên cạnh đó, minh bạch thông tin cũng là giải pháp quan trọng. Các trường cần công khai dữ liệu phân hóa kết quả học tập, gồm tỷ lệ các mức điểm và số lượng sinh viên giỏi, xuất sắc theo từng khoa, ngành. Trên cơ sở đó, xã hội và thị trường lao động có thêm căn cứ để đánh giá khách quan chất lượng đào tạo và uy tín của từng cơ sở giáo dục.
Cũng tại công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2026-2027, Bộ GD&ĐT đề nghị các cơ sở giáo dục đại học phải rà soát quy định kiểm tra, đánh giá, xếp loại tốt nghiệp; kiểm tra mẫu bài thi, đồ án, luận văn và minh chứng đánh giá. Công tác bảo đảm chất lượng bên trong cần được thực hiện thực chất, gắn với kế hoạch cải tiến có người phụ trách, thời hạn và minh chứng hoàn thành. Báo cáo về kiểm soát lạm phát điểm và kết quả cải tiến phải được hoàn thành trước khi kết thúc năm học.