Thầy giáo trường Chuyên ở Nghệ An chỉ ra điều bất cập môn học Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Theo thầy Trần Trung Hiếu, giáo viên Trường THPT chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An, trao quyền lựa chọn môn học được xem là một bước tiến của Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhưng thực tế triển khai đang đặt ra nhiều câu hỏi.
Môn học lựa chọn: “Học sinh được lựa chọn” trên giấy tờ có thể khác với trên thực tế
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là chuyển mạnh từ tư duy “học sinh học những gì nhà trường quy định” sang tư duy “học sinh được lựa chọn theo năng lực, sở thích và định hướng nghề nghiệp”. Ở cấp THPT, ngoài các môn và hoạt động giáo dục bắt buộc, học sinh lựa chọn 4 trong 9 môn: Địa lí, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Âm nhạc và Mĩ thuật.
Theo thầy Trần Trung Hiếu, giáo viên Trường THPT chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An, về mặt tư tưởng, đây là một bước tiến. Không thể phủ nhận rằng trao quyền lựa chọn cho học sinh phù hợp với yêu cầu phân hóa và định hướng nghề nghiệp của giáo dục hiện đại. Một học sinh có năng khiếu khoa học tự nhiên không nhất thiết phải dành quá nhiều thời gian cho những môn không phục vụ định hướng của mình. Ngược lại, học sinh yêu thích khoa học xã hội, nghệ thuật hay công nghệ cần có không gian để phát triển sở trường. Ý tưởng ấy hướng tới một nền giáo dục coi người học là chủ thể.
Nhưng theo thầy Hiếu, vấn đề nằm ở chỗ: trao quyền lựa chọn không đồng nghĩa với việc học sinh đã có đủ điều kiện để lựa chọn.
Thầy Trần Trung Hiếu, giáo viên Trường THPT chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An. Ảnh: NVCC
Thực tế triển khai cho thấy việc mở rộng lựa chọn đặt các trường phổ thông trước một bài toán rất khó: đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, quy mô học sinh, phòng học bộ môn và khả năng tổ chức thời khóa biểu không phải nơi nào cũng đáp ứng được tất cả phương án lựa chọn. Chính chương trình cũng quy định nhà trường xây dựng các tổ hợp môn học phù hợp với nguyện vọng của học sinh nhưng đồng thời phải căn cứ vào điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học.
Vì vậy, trong không ít trường, “học sinh được lựa chọn” trên giấy tờ có thể khác với “học sinh được lựa chọn” trong thực tế. Các em có thể được đăng ký nguyện vọng, nhưng cuối cùng vẫn phải lựa chọn trong những tổ hợp mà nhà trường có khả năng tổ chức. Khi số lượng học sinh đăng ký một môn quá ít, việc mở lớp trở nên khó khăn; khi một số môn có quá đông học sinh lựa chọn, nhà trường lại phải chia lớp, bố trí giáo viên, phòng học và thời khóa biểu.
"Đáng nói hơn, việc lựa chọn môn học của học sinh đôi khi chưa xuất phát chủ yếu từ năng lực, sở thích và định hướng nghề nghiệp, mà chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác: bạn bè lựa chọn gì, môn nào được cho là dễ học, dễ thi, giáo viên nào dạy, trường tổ chức tổ hợp nào và sau này môn nào thuận lợi cho thi tốt nghiệp, xét tuyển đại học. Chính Bộ GDĐT từng thông tin về hiện tượng học sinh lựa chọn môn thi theo tiêu chí “dễ thi, dễ đỗ”, cho thấy khoảng cách giữa mục tiêu định hướng nghề nghiệp và hành vi lựa chọn thực tế vẫn còn đáng suy nghĩ.
Đây chính là nghịch lý cần nhìn thẳng: chương trình muốn phân hóa để cá thể hóa việc học, nhưng hệ thống lại chưa đủ điều kiện để cá thể hóa sự lựa chọn", thầy Hiếu cho hay.
Đề xuất mới cho mô hình môn học lựa chọn
Một hệ quả khác theo thầy Hiếu là sự phân hóa giữa các trường có thể gia tăng. Trường có đội ngũ giáo viên đầy đủ, cơ sở vật chất tốt, quy mô học sinh lớn sẽ có nhiều khả năng tổ chức các tổ hợp đa dạng. Trong khi đó, trường ở địa bàn khó khăn có thể phải thu hẹp phương án lựa chọn vì thiếu giáo viên hoặc thiết bị. Nếu không có cơ chế điều phối và bảo đảm nguồn lực, quyền lựa chọn của học sinh vô hình trung có thể phụ thuộc vào “khả năng cung ứng” của từng nhà trường.
Từ thực tiễn ấy, cần đặt lại một câu hỏi căn bản: chúng ta đang thiết kế chương trình theo điều kiện lý tưởng hay theo năng lực thực tế của hệ thống giáo dục?
"Theo tôi, không nên phủ nhận mô hình môn học lựa chọn. Điều cần thiết là sửa cách thiết kế và tổ chức thực hiện.
- Thứ nhất, cần rà soát toàn diện danh mục môn bắt buộc, môn lựa chọn và các chuyên đề theo hướng tinh gọn, giảm chồng chéo, bảo đảm kiến thức nền tảng mà mọi công dân cần có.
- Thứ hai, quyền lựa chọn phải đi kèm với quyền được cung cấp thông tin. Học sinh THCS cần được hướng nghiệp sớm, được tư vấn thực chất về năng lực, sở thích, yêu cầu của từng nhóm ngành nghề; không thể bắt một học sinh lớp 10 tự quyết định tương lai khi chưa được trang bị đủ thông tin.
- Thứ ba, cần chuyển từ “nhà trường có gì cho học sinh chọn nấy” sang “học sinh cần gì, hệ thống phải từng bước đáp ứng cái đó”. Muốn vậy phải có quy hoạch đội ngũ giáo viên và đầu tư cơ sở vật chất tương ứng.
- Thứ tư, cần đánh giá lại mối quan hệ giữa môn học lựa chọn và kỳ thi tốt nghiệp THPT. Hiện nay học sinh thi Ngữ văn, Toán và hai môn tự chọn trong số các môn được học ở lớp 12. Nếu cách thi và tuyển sinh tiếp tục tạo ra những “môn học có lợi thế”, thì rất khó kỳ vọng học sinh lựa chọn hoàn toàn vì sở thích và định hướng nghề nghiệp.
Một chương trình tốt không chỉ là chương trình có nhiều lựa chọn. Một chương trình tốt phải bảo đảm học sinh thực sự có quyền lựa chọn và lựa chọn ấy có giá trị đối với tương lai của các em.
Đổi mới giáo dục không nên dừng ở việc thay đổi tên môn, số lượng môn hay cách xếp thời khóa biểu. Điều quan trọng nhất là phải trả lời được câu hỏi: sau mỗi lựa chọn của học sinh, các em có thực sự được học tốt hơn, hiểu mình hơn và có thêm cơ hội phát triển hay không?
Nếu câu trả lời chưa rõ, đã đến lúc Bộ GDĐT cần phải điều chỉnh. Chương trình phải phục vụ người học; không thể bắt người học thích nghi vô hạn với những giới hạn của chương trình và năng lực tổ chức của nhà trường", thầy Hiếu cho hay.